[Các đơn vị vận động | Phần I] Cấu tạo cơ bắp

Mỗi đơn vị vận động có 3 thành phần chính:

  • Nơ ron vận động.
  • Sợi cơ
  • Synap thần kinh – cơ

 

I. Nơron vận động.

Về cấu trúc nơron vận động thuộc về hệ thần kinh nhưng trên quan điểm chức năng thì nơron vận động là một bộ phận quan trọng của bộ máy vận động. Nơron vận động nằm ở sừng trước tuỷ sống. Cấu tạo nơron vận động giống nơron khác, nhưng sợi trục của nơron vận động ở người ratas dài, có sợi dài đến 1,2m. Song cũng có những sợi trục nắng, ví dụ sợi trục của nơron vận động đi đến cơ ở mặt và lưỡi. Khi tới gần vùng sợi cơ, sợi trục của nơron vận động phân nhánh nhiều lần và như vậy, mỗi sợi trục tiếp xúc với nhiều sợi cơ. Vùng tiếp xúc giữa nhánh tận sợi trục với sợi cơ tạo nên synap thần kinh – cơ.

 

II. Synap thần kinh – cơ.

Synap thần kinh – cơ là nơi tiếp giáp giữa tận cùng của sợi trục với sợi cơ. Synap thần kinh cơ cấu tạo giống Synap thần kinh – thần kinh, nhưng khác ở chỗ màng sau synap là màng sợi cơ.

 

III. Sợi cơ

  1. Cấu tạo sợi cơ.

Sợi cơ là cấu tạo cơ bản của bắp cơ. Số lượng sợi cơ ở người được xác định sau khi ra đời khoảng 4-5 tháng và sau đó hầu như không thay đổi. Bên ngoài sợi cơ được bao bọc bởi màng sợi cơ, bên trong là cơ tương. Trong cơ tương có nhân, ty lạp thể, riboxom, đặc biệt chứa tơ cơ và lưới cơ tương là thành phần quan trọng liên quan đến hoạt động co của sợi cơ. Chiều dài của tơ cơ tương đương với chiều dài sợi cơ. Xen kẽ giữa các tơ cơ có các ty lạp thể và các hệ thống ống ngang, ống dọc của lưới cơ tương. Ở những người không rèn luyện, tơ cơ nằm phân tán hơn, còn ở những cơ tập luyện chúng nằm thành bó.

Bên trong tơ cơ là các đơn vị cơ bản nhất tạo nên sự co cơ.

Vạch Z ở 2 đầu của đơn vị tơ cơ, nối với sợi Actin. Dải sáng có chứa sợi Actin gọi là Băng I.

Vạch M ở giữa đơn vị tơ cơ, nối với sợi Myosin. Dải tối chứa sợi Myosin gọi là Băng A.

Trên sợi Myosin có các phần nhô ra gọi là Cầu nối. Phần này tác dụng qua lại với sợi Actin. Làm cho Băng I và Băng A chồng chéo lên nhau tạo ra sự co cơ (Vùng chồng chéo).

 

  1. Các loại sợi cơ.

Có 3 loại sợi cơ: Sợi cơ chậm nhóm I và sợi cơ nhanh nhóm II. Trong sợi cơ nhanh nhóm II lại chia thành 2 nhóm nhỏ là II-a và II-b.

a/ Sợi cơ chậm (Sợi oxy hoá chậm – Slow Oxydative) có khả năng thực hiện hoạt động ưa khí lâu dài, tức là sức bền ưa khí cao, co cơ lâu với một lực không lớn.

Sợi cơ chậm có khả năng co bóp lâu, sức bền cao là do:

  • Sợi cơ chậm có mạng lưới mao mạch dày, vì vậy máy đến nhiều và được cung cấp oxy rất tốt.
  • Hàm lượng mioglobin cao nên sự vận chuyển oxy đến ty lạp thể được dễ dàng.
  • Có khả năng dự trữ cơ chất mang năng lượng
  • Các men oxy hoạt tính cao.

 

b/ Sợi cơ nhanh co mạnh hơn, tạo lực lớn hơn sợi cơ chậm. Sợi cơ nhanh có tốc độ co cơ nhanh hơn.

Sợi cơ nhanh có sức mạnh là do:

  • Hoạt tính men phân giải ATP càng lớn, tốc độ co cơ càng nhanh.
  • Chứa nhiều glycogen và hoạt tính men phân giải glucose cao.
  • Ít mao mạch, ít ty lạp thể, ít mioglobin và ít chất dinh dưỡng nhóm mỡ. Cung cấp năng lượng bằng con đường yếm khí.

 

Sợi cơ nhanh được chia thành 2 nhóm nhỏ:

Sợi cơ nhanh II-a (Sợi oxy hoá glucose phân – Fast oxydative glucolitic): vừa sản suất năng lượng bằng con đường ưa khí và yếm khí (có oxy và không có oxy).

Có hoạt tính men phân giải oxy cao hơn sợi II-b.

Sợi cơ nhanh II-b (Sợi glucose phân – Fast Glycolitic): Có hoạt tính men phân giải Glucose cao nhất. Sản xuất năng lượng bằng con đường hiếm khí.

 

Chia sẻ bài viết
Share on Facebook
Facebook
0Share on Google+
Google+
0

No Comments

Leave a Comment